[Khảo cứu về Nalanda] Phần 1: Nalanda trong dòng chảy lịch sử

Tóm tắt: Trong suốt hơn bảy thế kỷ tồn tại (TK V – XIII), Đại tu viện Nālandā (Nālandā Mahāvihāra) không chỉ là một trung tâm tu học Phật giáo mà còn là trái tim học thuật của châu Á cổ – trung đại. Phần này tổng hợp một số dấu mốc lịch sử của Nālandā qua các giai đoạn: từ nền móng khởi nguyên gắn liền với thời kỳ Đức Phật và triều đại Gupta, qua đỉnh cao hưng thịnh thế kỷ VII – XII, đến biến cố suy tàn vào đầu thế kỷ XIII, và cuối cùng là di sản còn lưu dấu đến ngày nay.

Các  ghi chú, tài liệu sử dụng: 

1 1 

2 2 

3 3 

4 4 

5 5 

6 6 

7 7 

8 8. 

9 9 

10 10 

11 11 

12 12 

13 13 

14 14 

15 15 

16 16

Thời kỳ hình thành

Tiền đề

Nalanda-Rajagaha-Pataliputa-in-Magadha

Nalanda, Rajagriha, Pataliputra ở xứ Magdha

Những năm đầu thế kỷ XX, di tích khảo cổ về Đại học viện Nālandā bắt đầu được khai quật gần thị trấn Rajgir, huyện Nalanda, bang Bihar, Ấn Độ. Việc khai quật di tích này như minh chứng sống động cho một trung tâm Phật học quan trọng và vĩ đại từng tồn tại tại ở đây. Ngược dòng thời gian về thời Đức Phật tại thế, khu vực Nālandā vốn nằm trên tuyến đường thương mại cổ nối liền thành Vương Xá (Rājagṛha) với Hoa Thị Thành (Pāṭaliputra) [1].

Ngoài ra, cũng tại một ngôi làng trong vùng Nalanda, ngài Xá Lợi Phất (Sāriputtra) – vị trưởng tử “trí tuệ đệ nhất” của Như Lai – đã sinh ra và diệt độ. Theo các kinh điển Pāḷi và Hán tạng, khu vực này còn có vườn xoài Pavarikampa trù phú do triệu phú Pāvārika cúng dường cho tăng đoàn Đức Phật. Khi Đức Phật du hành từ Vương Xá đến Hoa Thị Thành, Ngài đã từng dừng chân lưu trú và thuyết pháp tại vườn xoài này. Kinh điển cũng ghi nhận nhiều sự kiện của ngài Xá-lợi-phất gắn với nơi đây [8].

Trong ghi chép của ngài Huyền Trang và ngài Tāranātha (sử gia Tây Tạng thế kỷ XVII) có nhắc đến ngôi đại bảo tháp cùng ngôi tinh xá do vua Asoka xây dựng tại khu vực này để đánh dấu nơi Đức Phật từng dừng chân thuyết pháp cũng như để tưởng niệm ngài Xá-lợi-phất. Trong các đợt khai quật của Viện Khảo cổ học Ấn Độ (ASI), người ta cũng tìm thấy dấu tích ngôi bảo tháp thờ Xá-lợi-phất tại di tích Nālandā.  [7, 16, 13].

Có thể nói, tháp và tinh xá do vua Asoka xây dựng tại đây vào thế kỷ III TCN chính là tiền đề về tôn giáo và hạt nhân về kiến trúc để hình thành Đại tu viện Nalanda dưới vương triều Gupta sau này.

Cột mốc kiến lập dưới Vương triều Gupta

Trước thế kỷ V, dù đã xuất hiện các cơ sở tôn giáo tại đây, nhưng chỉ là các tu viện nhỏ mang tính biệt lập để tăng chúng cư ngụ, tụng niệm, trì giới trong mùa an cư kiết hạ. Dựa trên các con dấu đất nung và tiền cổ được khai quật tại di tích cùng các ghi chép của ngài Huyền Trang, một trung tâm tôn giáo quy mô và có tổ chức chỉ được chính thức xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ V dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Kumāragupta I (ngài Huyền Trang phiên âm là Śakrāditya / Đế Nhật) [7, 13, 14].

Sau Kumāragupta I (trị vì 415–455 CN), những người kế vị ông như Buddhagupta, Tathagatagupta, Baladitya và Vajra đã bảo trợ việc xây dựng thêm các tu viện và đền thờ ở đây. Từ đây, Nālandā bắt đầu mở rộng chức năng tiếp nhận tăng chúng từ các nơi đến tu học [13, 14]. Từ mô hình “vihara” (tu viện) truyền thống chỉ tập trung vào việc tụng niệm và trì giới, Nālandā dưới thời Gupta đã chuyển mình thành một Mahāvihāra (Đại tu viện), là nơi kết hợp giữa tu tập tâm linh với đào tạo, nghiên cứu triết học biện chứng cùng các ngành thế học đa dạng [14, 4].

Định hình là một trung tâm đào tạo

Khoảng năm 500 – 600, với sự hiện diện của các đại luận sư như Dignāga (Trần-na) và Bhaviveka (Thanh Biện), nơi đây trở thành trung tâm tranh biện triết học. Chương trình đào tạo chính thức sau đó còn tích hợp Ngũ Minh Xứ (Pañcavidyā), đưa các môn thế học (nhân minh/logic, y học, ngữ pháp Phạn ngữ, toán – thiên văn) vào chương trình bắt buộc bên cạnh việc nghiên cứu kinh điển thuần tuý [14, 4].

Thời kỳ hoàng kim

Nhận được sự bảo trợ vững chắc về kinh tế

Sau sự suy tàn của vương triều Gupta, một người hộ pháp nổi bật khác của Nalanda chính là vua Harṣa (còn được biết đến trong một số ghi chép với tên Giới Nhật Vương). Ông đã dành toàn bộ nguồn thu từ hơn 100 ngôi làng trù phú xung quanh để cúng dường gạo, bơ, sữa và nhu yếu phẩm hàng ngày cho hàng ngàn giáo thọ, tăng sinh, bảo đảm cho Đại tu viện này sự độc lập hoàn toàn về kinh tế [7, 6].

Đến thời kỳ vương triều Pāla (Thế kỷ VIII – XII), Nalanda vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Các vị vua Dharmapāla, Devapāla là những vị hộ pháp tích cực của nơi này. Nalanda được xem là trung tâm tôn giáo của đế chế cạnh một số tu viện mới thành lập như Vikramaśīla, Somapura và Odantapurī [4, 16].

Một văn bia khai quật tại Tu viện số 1 xác nhận việc vua Bālaputradeva của vương triều Sailendra (Đế chế Śrīvijaya – Indonesia/Malaysia ngày nay) đã thỉnh cầu vua Devapāla cấp 5 ngôi làng để tài trợ duy trì một tu viện riêng dành cho các tăng sinh vùng Java, Sumatra… (Đông Nam Á) sang đây lưu học [1, 4].

Đỉnh cao về học thuật

Vào thời kỳ đỉnh cao, trường học đã thu hút các học giả và tăng sinh viên từ khắp nơi, một số đến từ Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc và Trung Á. Chính từ ghi chép của các nhà sư hành hương đến đây vào thế kỷ VII, như Huyền Trang hay Nghĩa Tịnh, mà chúng ta có thêm nhiều hiểu biết về Nalanda trong giai đoạn này. 

Tại Nalanda, các tăng sinh nghiên cứu về triết lý Phật giáo từ các văn bản của Thập bát bộ Hinayana (Tiểu thừa) đến quan điểm của Mahayana (Mahayana). Ngoài ra, những người tu học tại đây cũng nghiên cứu môn học khác, chẳng hạn như ngữ pháp tiếng Phạn, y học, luật thiên văn… và nhất là logic học. Hơn nữa, kể cả các văn bản Vệ-đà, hay tư tưởng của các trường phái “ngoại đạo” tại Ấn Độ thời bấy giờ như Số luận phái (Samkhya)… cũng đều được nghiên cứu và dạy tại Nalanda. Bởi, việc am hiểu logic và triết lý của các trường phái khác được xem là cơ sở để có thể phản bác và bảo vệ tư tưởng của Phật giáo.

Truyền thống Tây Tạng cho rằng có bốn tông luận của Phật giáo ( tiếng Tây Tạng: གྲུབ་མཐའ་) được giảng dạy tại Nalanda: [3] Hữu bộ, Kinh bộ, Duy thức và Trung Quán (ở đây, đang tạm dịch theo thuật ngữ quen dùng của tác giả bài viết)

Theo ghi chép của Huyền Trang, tại Nalanda có khoảng 10.000 người, bao gồm hơn 1.500 giảng sư và 8.500 tăng sinh [6, 7]. Trong số hơn 1500 giảng sư, khoảng 1000 người có thể giải thích 20 bộ kinh điển, 500 người có thể giải thích 30 bộ, và chỉ có 10 giáo viên có thể giải thích 50 bộ. Đặc biệt, Viện trưởng Giới Hiền (Shilabhadra) được xem là nghiên cứu tất cả các bộ kinh điển chính ở Nalanda. [5] Dưới sự dẫn dắt của ông, Nalanda trở thành trung tâm số một về Duy Thức Tông và bộ luận căn bản Du-già sư-địa luận [6, 7].

Các ghi chép của Nghĩa Tịnh cũng mô tả chi tiết về quy chế tu học và sinh hoạt tại Nalanda. như việc kiểm tra kiến thức và đời sống nghiêm cẩn của tăng sinh [11].

(Một số vấn đề chi tiết về học thuật tại Nalanda sẽ đề cập đến trong phần 2)

Thời kỳ suy tàn

Sự suy tàn của Nālandā không diễn ra trong một sớm một chiều mà là kết quả của một tiến trình thoái trào nội tại kết hợp với các đợt biến động quân sự mang tính hủy diệt từ bên ngoài [2, 13]

Các yếu tố nội tại

Sự trỗi dậy của các hệ thống Veda/Hindu giáo: Phong trào Bhakti cùng sự phục hưng của các trường phái triết học Bà-la-môn (tiêu biểu như Advaita Vedānta của Śaṅkarācārya) làm suy giảm sự ủng hộ từ giới quý tộc bản địa [2, 4].

Sự suy tàn của triều đại Pāla: Sự sụp đổ của đế chế Pāla và sự thay thế của vương triều Sena (thiên hướng ủng hộ Ấn Độ giáo) vào thế kỷ XII khiến Nālandā mất đi nguồn tài chính bảo trợ từ hoàng gia [4, 13].

Sự tàn phá từ các thế lực quân sự bên ngoài vùng đất Ấn Độ

Sử gia Ba Tư Minhāj-i-Sirāj Jurjānī (1260) ghi lại cuộc tấn công của đội quân viễn chinh Mamluk do tướng Muhammad Bakhtiyar Khilji chỉ huy vào vùng Bihar. Đội quân này đã xem các tu viện kiên cố như các pháo đài quân sự, rồi tiến hành tàn sát hàng ngàn tăng chúng và thiêu rụi các thư viện khổng lồ [9]. Các cuộc khai quật tại di tích này trong giai đoạn 1920-1921 cũng phát hiện một lớp tro dày ở các tầng trên cùng và trải rộng nhiều nơi. Phát hiện này cũng minh chứng cho thấy Nalanda đã phải chịu một trận hỏa hoạn thảm khốc và suy sụp sau đó [15].

Khi nhà sư Tây Tạng ཆག་ལོ་ཙཱ་བ་ཆོས་རྗེ་དཔལ་ (Dharmasvāmin) đến Nālandā vào năm 1235, nơi này chỉ còn là một đống đổ nát. Ngài chứng kiến Thượng thủ già yếu Rāhulaśrībhadra (khoảng 90 tuổi) cùng một nhóm nhỏ khoảng 70 học tăng vẫn bám trụ dạy học trong cảnh thiếu thốn và luôn phải lẩn trốn các đợt tuần tiễu của quân đội Hồi giáo. Sau khi ngài Rāhulaśrībhadra viên tịch, ngọn đèn học thuật Nālandā chính thức lụi tàn trên mảnh đất Ấn Độ [12].

Di sản để lại

Đối với Phật học

Trong thời kỳ hoàng kim của mình, Nalanda đã góp phần đào tạo một lực lượng tăng sĩ không chỉ tinh thông triết lý Phật giáo mà còn có lý luận sắc bén và am hiểu các lĩnh vực học thuật và các trường phái “ngoại đạo” khác. Nhờ đó, các vị ấy có phần áp đảo trong các cuộc tranh biện cùng các trường phái đương thời và góp phần nâng cao vị thế của Phật giáo ở Ấn Độ. Hơn nữa, qua việc thu hút nhiều nhà sư đến từ khắp nơi như Trung Quốc, Tây Tạng, Java, Sumatra…, Nalanda đã góp phần lan toả sâu rộng tư tưởng Phật giáo, nhất là các hệ tư tưởng Phật giáo bộ phái. 

Đặc biệt, tuy nhiều bản văn Kinh Luận Phạn ngữ tại đây gần như bị thiêu rụi hoàn toàn trong thời kỳ bị tàn phá, nhưng các bản văn này đã được các học giả Trung Quốc, Tây Tạng đến đây lưu học trong thời kỳ hoàng kim nghiên cứu và dịch thuật để truyền bá về nước của họ. Nhờ vậy, giới học thuật hiện tại vẫn có thể căn cứ trên các bản văn Hán ngữ và Tạng ngữ để hệ thống, phác hoạ một cách gần như hoàn hảo các hệ tư tưởng đương thời [5, 16]

Đối với văn hoá, học thuật nói chung

Nālandā là hình mẫu sơ khai nhất của mô hình viện đại học nội trú liên ngành (residential university), mà ở đó có sự kết hợp cả nơi lưu trú, giảng đường, thư viện chuyên khảo và quy chế học vị hàn lâm nghiêm ngặt. Mô hình này của Nalanda xuất hiện trước cả các đại học châu Âu (như Bologna, Oxford, Paris) nhiều thế kỷ [4, 13].

Năm 2010, một trường đại học quốc tế mới mang tên Đại học Nālandā (Nālandā University) đã được thành lập tại Rajgir dưới sự đồng thuận của Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS). Năm 2016, quần thể phế tích khảo cổ Nālandā Mahāvihāra chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới [1].

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Archaeological Survey of India (ASI) (2016), Excavated Remains at Nalanda: Nomination Dossier for World Heritage Inscription, New Delhi: Government of India[↩][↩][↩][↩]
  2. Basham, A. L. (1954), The Wonder That Was India, London: Sidgwick & Jackson[↩][↩][↩]
  3. Berzin, Alexander (2002), “The Four Indian Buddhist Tenet Systems Regarding Illusion”[↩][↩]
  4. Dutt, Sukumar (1962), Buddhist Monks and Monasteries of India: Their History and Their Contribution to Indian Culture, London: George Allen and Unwin[↩][↩][↩][↩][↩][↩][↩][↩]
  5. ’Gos Lo-tsā-ba Gzhon-nu-dpal [འགོས་ལོ་ཙཱ་བ་གཞོན་ནུ་དཔལ] (1476), Deb-ther sngon-po [དེབ་ཐེར་སྔོན་པོ་ / người viết tạm dịch Biên niên sử xanh]. Bản dịch tiếng Anh (The Blue Annals): George N. Roerich (1949), Calcutta: Royal Asiatic Society of Bengal[↩][↩][↩]
  6. Huệ Lập (慧立) & Ngạn Tông (彥悰) (688), Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大慈恩寺三藏法師傳), Taishō Tripiṭaka, Vol. 50, No. 2053[↩][↩][↩][↩]
  7. Huyền Trang (玄奘) (646), Đại Đường Tây Vực Ký (大唐西域記), Taishō Tripiṭaka, Vol. 51, No. 2087. Bản dịch tiếng Anh (Si-Yu-Ki: Buddhist Records of the Western World): Samuel Beal (1884), London: Trübner & Co[↩][↩][↩][↩][↩][↩]
  8. Kinh Nikāya [Kinh tạng Pāḷi] – tham khảo nhiều nguồn – Trong đó, các kinh nhắc đến sự kiện Đức Phật thuyết pháp tại đây như: Kinh Kiên cố (Kevaddha Sutta) – Kinh Trường Bộ, Kinh Ưu-ba-ly (Upāli Sutta) – Kinh Trung Bộ…; Các kinh nhắc đến các sự kiện của Ngài Xá-lợi-phất và nơi này như: Kinh Tự Hoan Hỷ – Kinh Trường Bộ,  Kinh Nalanda – Kinh Tương Ưng Bộ[↩][↩]
  9. Minhāj-i-Sirāj Jurjānī (1260), Ṭabaqāt-i Nāṣirī. Bản dịch tiếng Anh (Tabakat-i-Nasiri: A General History of the Muhammadan Dynasties of Asia, Vol. 1): Major H. G. Raverty (1881), Calcutta: Asiatic Society of Bengal[↩][↩]
  10. Mookerji, Radha Kumud (1998) [1951], Ancient Indian Education: Brahmanical and Buddhist (2nd ed.), New Delhi: Motilal Banarsidass Publishers. ISBN: 978-81-208-0423-4[↩]
  11. Nghĩa Tịnh (義淨) (691), Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳), Taishō Tripiṭaka, Vol. 54, No. 2125. Bản dịch tiếng Anh (A Record of the Buddhist Religion as Practised in India and the Malay Archipelago): J. Takakusu (1896), Oxford: Clarendon Press[↩][↩]
  12. Roerich, George N. (dịch & chú giải) (1959), Biography of Dharmasvamin (Chag lo tsa-ba Chos-rje-dpal): A Tibetan Monk Pilgrim, Patna: K. P. Jayaswal Research Institute[↩][↩]
  13. Sankalia, Hasmukh Dhirajlal (1934), The University of Nalanda, Madras: B. G. Paul & Co. Tái bản 1972, New Delhi: Oriental Publishers[↩][↩][↩][↩][↩][↩][↩]
  14. Scharfe, Hartmut (2002), Education in Ancient India, Handbook of Oriental Studies, Section 2: South Asia, Vol. 16, Leiden: Brill[↩][↩][↩][↩][↩]
  15. Singh, Anand (2013), “‘Destruction’ and ‘Decline’ of Nālandā Mahāvihāra: Prejudices and Praxis”, Journal of the Royal Asiatic Society of Sri Lanka, New Series, Vol. 58[↩][↩]
  16. Tāranātha (1608), dGogs-pa-’brel-’byung / rGya-gar chos-’byung [རྒྱ་གར་ཆོས་འབྱུང་ / Lịch sử Phật giáo Ấn Độ]. Bản dịch tiếng Anh (History of Buddhism in India): Lama Chimpa & Alaka Chattopadhyaya (1970), Simla: Indian Institute of Advanced Study[↩][↩][↩][↩]