Vào thời kỳ đỉnh cao, trường học đã thu hút các học giả và tăng sinh viên từ khắp nơi, một số đến từ Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc và Trung Á. Chính từ ghi chép của các nhà sư hành hương đến đây vào thế kỷ VII, như Huyền Trang hay Nghĩa Tịnh, mà chúng ta có thêm nhiều hiểu biết về Nalanda trong giai đoạn này.
Tại Nalanda, các tăng sinh nghiên cứu về triết lý Phật giáo từ các văn bản của Thập bát bộ Hinayana (Tiểu thừa) đến quan điểm của Mahayana (Mahayana). Ngoài ra, những người tu học tại đây cũng nghiên cứu môn học khác, chẳng hạn như ngữ pháp tiếng Phạn, y học, luật thiên văn… và nhất là logic học. Hơn nữa, kể cả các văn bản Vệ-đà, hay tư tưởng của các trường phái “ngoại đạo” tại Ấn Độ thời bấy giờ như Số luận phái (Samkhya)… cũng đều được nghiên cứu và dạy tại Nalanda. Bởi, việc am hiểu logic và triết lý của các trường phái khác được xem là cơ sở để có thể phản bác và bảo vệ tư tưởng của Phật giáo.
Truyền thống Tây Tạng cho rằng có bốn tông luận của Phật giáo ( tiếng Tây Tạng: གྲུབ་མཐའ་) được giảng dạy tại Nalanda: [] Hữu bộ, Kinh bộ, Duy thức và Trung Quán (ở đây, đang tạm dịch theo thuật ngữ quen dùng của tác giả bài viết)
Theo ghi chép của Huyền Trang, tại Nalanda có khoảng 10.000 người, bao gồm hơn 1.500 giảng sư và 8.500 tăng sinh [, ]. Trong số hơn 1500 giảng sư, khoảng 1000 người có thể giải thích 20 bộ kinh điển, 500 người có thể giải thích 30 bộ, và chỉ có 10 giáo viên có thể giải thích 50 bộ. Đặc biệt, Viện trưởng Giới Hiền (Shilabhadra) được xem là nghiên cứu tất cả các bộ kinh điển chính ở Nalanda. [] Dưới sự dẫn dắt của ông, Nalanda trở thành trung tâm số một về Duy Thức Tông và bộ luận căn bản Du-già sư-địa luận [, ].
Các ghi chép của Nghĩa Tịnh cũng mô tả chi tiết về quy chế tu học và sinh hoạt tại Nalanda. như việc kiểm tra kiến thức và đời sống nghiêm cẩn của tăng sinh [].
(Một số vấn đề chi tiết về học thuật tại Nalanda sẽ đề cập đến trong phần 2)
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO